This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Cần dùng muối iod trong bao lâu?

Gia đình tôi vẫn thường dùng muối iod để nấu ăn với mục đích phòng bệnh bướu cổ. Xin hỏi bác sĩ, muối iod có các tác dụng gì với sức khỏe? Nên dùng bao nhiêu mỗi ngày và dùng trong bao lâu?

Đinh Thị Thêm(Phú Thọ)

Muối iod có nhiều tác dụng tốt với sức khỏe, ở đây chúng tôi xin đề cập đến tác dụng của iod. Iod có nhiều chức năng đối với cơ thể như: cần thiết cho hoạt động của tuyến giáp; có trong thành phần của hormon tuyến giáp, giúp điều hòa nhiều chức năng của cơ thể như: làm cho cơ thể phát triển, làm tăng hoạt động của một số men, giúp co cơ, làm tăng lưu lượng tim, tác động trực tiếp đến tần số của tim và mức tiêu thụ ôxy của tim, giúp sản sinh hồng cầu, tác động đến cơ chế chuyển hóa sắt, đến sự sinh sản, làm tăng khả năng lọc của thận, điều hòa nhiệt độ cơ thể, kích thích tổng hợp và phân giải lipid, tăng chuyển hóa đường, tăng tổng hợp protein khi nồng độ bình thường và phá hủy protein ở nồng độ cao. Có nhiều loại thức ăn chứa nhiều iod như: cá, tôm, cua, ốc, tảo, rau, trái cây, nội tạng động vật, sữa...

Lượng iod nên dùng mỗi ngày cho người lớn là 150mcg. Tuy nhiên, khi thức ăn cung cấp thừa hay thiếu iod thì cơ thể sẽ tự điều chỉnh việc giảm hay tăng hấp thu iod để đảm bảo cân bằng iod. Tùy địa phương mà cần dùng muối iod thường xuyên hay không. Chẳng hạn với vùng núi cao, khan hiếm thủy hải sản và các loại thức ăn giàu iod thì cần dùng muối iod quanh năm và dùng lâu dài. Vùng biển hoặc thành phố sẵn thức ăn có nhiều iod thì dùng muối iod ít hơn.

BS. Nguyễn Bằng Việt

Lợi ích của chế độ ăn và giảm cân với người tăng huyết áp

Vì vậy, thực hiện chế độ ăn và giảm cân là những biện pháp điều trị không thể thiếu đối với bệnh nhân tăng huyết áp.

Thực hiện chế độ ăn với người bệnh

Giảm lượng muối natri: Ăn giảm muối giúp hạ huyết áp ở những người tăng huyết áp hoặc ở giới hạn bình thường cao. Ăn giảm muối cũng làm giảm tỷ lệ bệnh nhân phải tái nâng liều thuốc hạ áp sau khi đã được phép giảm liều.

Chuyển từ thói quen ăn mặn sang chế độ ăn giảm muối giúp giảm nhẹ huyết áp ở những người huyết áp bình thường. Khi lượng natri đưa vào cơ thể giảm từ 4000 mg xuống còn 2000 mg mỗi ngày thì huyết áp có thể giảm từ 2 – 3 mmHg. Trong 7 năm ăn giảm muối, huyết áp có thể giảm đi 10 mmHg. Như vậy, ăn giảm muối có thể giúp làm giảm nguy cơ tim mạch.

Ăn nhiều rau quả : Ăn nhiều rau quả hàng ngày có thể làm giảm huyết áp và phòng chống tăng huyết áp. Một nghiên cứu cho thấy bệnh nhân tăng huyết áp mức độ vừa ăn nhiều rau làm giảm được huyết áp tâm thu nhiều hơn so với khi ăn theo tiết chế bình thường.

Một trong những thành phần của rau quả có thể gây tác động đến huyết áp đó là chất xơ. Tăng chất xơ trong khẩu phần ăn có thể làm giảm huyết áp. Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy nếu ăn trung bình hàng ngày 11,5 gam chất xơ sẽ làm huyết áp giảm được 1,2 – 1,3 mmHg. Mặt khác, ăn nhiều chất xơ sẽ có nhiều lợi ích khác đối với sức khỏe, ví dụ như giảm được lượng cholesterol toàn phần và nồng độ insulin. Nên ăn từ 20 – 35 gam chất xơ mỗi ngày. Ngũ cốc là nguồn cung cấp chất xơ rất quan trọng trong khẩu phần ăn hàng ngày.

Lợi ích của chế độ ăn và giảm cân với người tăng huyết ápChế độ ăn nhiều rau quả tốt cho người bệnh tăng huyết áp.

Ăn cá nước ngọt: Tăng lượng cá nước ngọt trong khẩu phần ăn hàng ngày có thể giúp hạ huyết áp. Phối hợp với biện pháp giảm cân nặng làm hạ huyết áp được nhiều hơn. Trong một nghiên cứu khoa học cho thấy ăn nhiều cá và giảm cân nặng làm huyết áp 133/77 mmHg giảm xuống 119/68 mmHg.

Bỏ hoặc hạn chế uống cà phê: Cà phê có thể làm tăng nhẹ huyết áp cho dù tác dụng nà y chỉ là tạm thời. Dùng cà phê vừa phải không gây nguy cơ tăng huyết áp trong phần lớn các trường hợp.

Nghiện cà phê có thể làm tăng huyết áp vừa phải ở một số bệnh nhân. Phân tích tổng hợp 18 nghiên cứu khoa học cho thấy uống cà phê làm huyết áp tâm thu tăng 1,2 mmHg và huyết áp tâm trương tăng 0,49 mmHg. Huyết áp giảm xuống sau khi bỏ thói quen uống cà phê hàng ngày.

Tập thể dục đều đặn: Tập thể dục có thể làm giảm huyết áp từ 5 – 15 mmHg. Để có được hiệu quả này cần phải tập thường xuyên và kéo dài. Ngừng tập luyện có thể làm cho huyết áp tăng trở lại. Cần lưu ý rằng bên cạnh tập thể dục thường xuyên, các động tác đi lại, vươn thở sâu... có thể giúp tiêu hao 100 – 800 calo mỗi ngày.

Lợi ích của giảm cân

Thừa cân gây nguy cơ tăng huyết áp và các bệnh tim mạch khác phối hợp với tăng huyết áp. Cùng với tuổi, tăng cân dần dần trong cuộc sống dường như góp phần làm tăng huyết áp ở những người có tuổi.

Giảm cân là kết quả đạt được của nhiều biện pháp không dùng thuốc phối hợp, ví dụ giảm calo trong khẩu phần ăn, tăng cường luyện tập thể dục, hạn chế bia rượu...

Thừa cân làm tăng huyết áp và làm cho huyết áp khó kiểm soát huyết áp ở những bệnh nhân tăng huyết áp. Ngược lại, giảm đi 1kg cân nặng giúp huyết áp giảm 1mmHg.

Thêm vào tác dụng hạ áp, giảm cân còn mang lại một số lợi ích khác như giảm cholesterol máu, giảm phì đại tim, giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Vì vậy, chúng ta cần duy trì cân nặng ở mức độ hợp lý. Giảm cân có thể khó đạt được và khi đạt được cũng khó duy trì nên việc duy trì cân nặng ở mức độ hợp lý đòi hỏi phải áp dụng nhiều biện pháp phối hợp như tiết chế hàng ngày, không nên sử dụng thức ăn quá béo hoặc nhiều đồ uống có ga, luyện tập thể dục và kiểm tra cân nặng thường xuyên. Nếu có điều kiện, nên đến tư vấn bác sĩ về dinh dưỡng, tim mạch hoặc nội tiết để sức khỏe của chúng ta được chăm sóc tốt hơn.

PGS. TS. Tạ Mạnh Cường

Tránh xa những loại hải sản có lượng độc tố cao gây chết người

Trong số 39 loài sinh vật có chứa chất độc do Viện Hải dương học Nha Trang công bố, có 22 loài cá, một loài mực tuộc, hai loài ốc, ba loài cua, một loài sam và 10 loài rắn biển. Ngoài ra còn có hai loài cá nóc nước ngọt mới được phát hiện ở một số tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, tổng cộng là 41 loài sinh vật độc.

Đa số những loài sinh vật độc hại nói trên đều có ở vùng biển nước ta , từ vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan, như các loài cá nóc, cá bống vân mây, loài so và rắn biển, nhưng cũng có một số loài như ốc biển, cua, mực đốm xanh… chỉ mới gặp ở vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ.

Phần lớn những loài này sống cả ở ngoài khơi và vùng ven bờ, các vùng vịnh, đầm phá, các cửa sông lớn… Riêng hai loài cá nóc nước ngọt được xác định là cá nóc chấm xanh (Chelonodon nigroviridis) và cá nóc mắt đỏ (Carinotetraodon lorteti) mới chỉ phát hiện được ở đồng bằng sông Cửu Long.

Những loài hải sản độc này có thể gây hại cho con người theo hai cách chính: qua đường tiêu hoá do các món ăn chế biến từ cá và hải sản và qua phản ứng tự vệ của con vật khi ta vô tình chạm vào chúng, bị chúng căn, chích hoặc phóng tên độc.

Cá nóc

Các loại hải sản cực độc

Trong 41 loài sinh vật độc trên có 5 loại cực độc là: Cá nóc răng mỏ chim, cá nóc tro, cá nóc vằn mặt, cá nóc chấm cam, cá nóc chuột vằn mang, trong đó cá nóc chấm cam và cá nóc chuột vằn mang là hai loài độc nhất.

Cá nóc chuột vằn mang (Aronthron immaculatus) thân có dạng hình trứng, vây lưng viền đen, bụng màu trắng… nom không có vẻ gì đáng sợ nhưng trong trứng loài cá này tập trung một lượng chất độc khủng khiếp, cứ 100g trứng có thể giết chết 200 người; hàm lượng độc chất cao xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 10.

Độc tố có trong cá nóc có tên là Tetrodotoxin, tập trung nhiều ở gan, thận, tuỵ, cơ quan sinh sản (buồng trứng, túi tinh), mắt, mang, da, máu của cá nóc. Độc tính của độc tố tăng mạnh vào mùa sinh sản của cá (từ tháng 2 đến tháng 7). Độc tố cá nóc không có trong thịt cá nóc, tuy nhiên khi đánh bắt, chế biến hoặc cá để ươn, bị dập nát, độc tố ngấm vào thịt cá sẽ gây độc khi dùng. Độc tố cá nóc rất độc, chỉ cần 4 mg thịt cá có độc tố đã giết chết 1 con thỏ 1kg. Với người chỉ cần ăn 10 gam thịt cá nóc có độc tố là bị ngộ độc. Chỉ từ 1-2mg độc tố có thể gây chết người.

Độc tố cá nóc có tính bền vững cao. Nếu đun sôi ở 1000 độ C trong 6 giờ độc tố mới giảm một nửa, đun sôi ở 2000 độ C trong 10 phút độc tố mới bị phá huỷ hoàn toàn. Như vậy, nếu chỉ đun nấu thông thường, ngộ độc cá nóc vẫn có thể xảy ra, do độc tố chưa bị phá huỷ hết. Khi phơi khô, chế biến thông thường độc tố chưa bị phá huỷ nên vẫn gây ngộ độc.

Người ăn phải cá nóc có độc tố Tetrodotoxin, sau 5 phút đến 3-4 giờ mới xuất hiện cảm giác ngứa ở miệng; môi, lưỡi tê, khó chịu. Tiếp theo thấy mệt mỏi, chóng mặt, choáng váng, cảm giác như nghẹt thắt lồng ngực, vã mồ hôi, tiết nước dãi, sùi bọt mép, nói khó, nuốt khó, mặt ửng đỏ, đau bụng, buồn nôn, nôn, run giật, cứng hàm, cứng lưỡi, chi dưới yếu, đồng tử co, liệt vận động nhãn cầu. Trường hợp nặng xuất hiện liệt toàn thân, người mềm ra, chân tay mất khả năng vận động, da tím tái, nhiệt độ và huyết áp giảm, khó thở, cuối cùng liệt cơ hô hấp, truỵ tim mạch và tử vong. Tỷ lệ tử vong rất cao (60%) nếu cấp cứu chậm.

Sau cá nóc chuột vằn mang, cá nóc chấm cam (Torquigener gallimaculatus) cũng rất đáng sợ, cứ 100g trứng hoặc gan loài cá này có thể giết chết 60 – 70 người.

Con so biển và sam biển giống nhau nên nhiều người dễ lầm tưởng

Sam biển ăn rất mát nhưng nếu nhầm lẫn, ăn phải so biển sẽ sẽ bị ngộ độc

Tác hại chết người của nọc độc hải sản

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, bản chất các độc tố của phần đông các hải sản trên thuộc nhóm chất độc thần kinh, nên khi con người bị nhiễm chất độc này sẽ tác động trực tiếp đến hệ thần kinh và hệ tim mạch gây ra những triệu chứng ngộ độc rất trầm trọng

Hầu hết chúng là những chất độc nguy hiểm có tỷ lệ tử vong cao trong thời gian rất nhanh, với liều độc thấp. Cụ thể, chất độc chứa trong cá nóc và nhiều loại hải sản khác như mực đốm xạnh, so biển, cá bống vân mây, v.v.. là tetrodotoxin, có tác động trên thần kinh trung ương rất mạnh làm liệt các trung khu thần kinh, gây tê liệt cơ thể, ngừng tuần hoàn, hô hấp dẫn đến tử vong nhanh chóng.

Mực đốm xanh

Triệu chứng của ngộ độc như sau:

Trường hợp bị nhiễm ít chất độc, bệnh nhẹ: Sau khi ăn phải hải sản độc từ 10 phút đến vài giờ, người bệnh thấy tê môi, lưỡi, miệng, mặt, tê các ngón tay, bàn tay, ngón chân và bàn chân. Đồng thời thấy đau đầu, vã mồ hôi, đau bụng, buồn nôn và nôn, tăng tiết nước bọt…

Trường hợp nặng: Người bệnh mệt lả, yếu cơ, liệt cơ tiến triển nên đi đứng loạng choạng không vững. Tình trạng liệt cơ nặng lên nhanh chóng dẫn đến liệt toàn thân, kể cả hô hấp, khiến người bệnh không thở được, suy hô hấp, ngừng thở, mạch chậm, huyết áp hạ và hôn mê, dẫn đến tử vong.

Trong cơ thể cá và hải sản độc, thường trứng và gan là hai nơi tập trung độc chất cao nhất. Nhưng cũng có những hải sản độc, thịt và da lại là những nơi tập trung độc tố cao hơn cả, như loài cá bống vân mây.

Chất độc của cá này tuy có ở tất cả các bộ phận cơ thể, nhưng tập trung nhiều nhất ở da, cứ 100g da có thể giết chết 9 – 10 người.

Còn đối với ba loài hải sản độc khác là cua hạt, mực đốm xanh và so biển thì tất cả các bộ phận khác nhau của cơ thể chúng đều chứa chất độc. Cũng vì vậy, các nhà khoa học khuyên người tiêu dùng tuyệt đối không dùng các loài hải sản độc chế biến thức ăn dưới bất cứ hình thức nào và với bất cứ bộ phận nào của cơ thể chúng.

Trong thực tế hầu hết các trường hợp ngộ độc hải sản nặng đều do ăn phải những loài cá biển và hải sản chứa độc tố mạnh. Ngoài ra cũng có một số người bị trúng độc do sờ mó hoặc vô tình chạm vào những loài rắn biển, cá mặt quỉ, mực đốm xanh, ốc cối… nên bị chúng căn, chích hoặc phóng tên độc. Các độc tố của con vật sẽ theo răng hoặc tên độc của chúng phóng ra xâm nhập cơ thẻ người qua vết thương gây ngộ độc

Thanh Loan

Cách chọn mua, bảo quản và chế biến thực phẩm

Chuyên gia dinh dưỡng sẽ giúp chúng ta cách chọn mua, bảo quản và chế biến thực phẩm an toàn…

Cách chọn mua, bảo quản và chế biến thực phẩm

Cách chọn mua thực phẩm

Thịt

Các loại thịt còn tươi ngon phải có màu sắc và mùi đặc trưng của từng loại, không có mùi hôi, mùi lạ, bề mặt khô ráo không rỉ nước, có độ đàn hồi tốt (khi ấn ngón tay vào bề mặt miếng thịt lúc bỏ ngón tay ra thì vết lõm nhanh chóng mất đi). Không nên mua thịt có những dấu hiệu bất thường, khác lạ.

Thịt lợn (heo): Thịt lợn sạch có màu hồng tươi, lớp mỡ dày (1.5- 2cm), không rỉ nước. Thịt có thuốc an thần thường có màu hồng đỏ bất thường, khi ấn tay vào miếng thịt sẽ thấy mịn, nước rỉ ra ngoài. Thịt lợn chứa hormone tăng trưởng có lớp da mỏng, căng khác thường, phần nạc gần sát với da, mỡ rất ít và màu sắc sẫm hơn thịt bình thường. Khi chế biến, thịt ra nhiều nước, mùi vị không thơm đặc trưng của thịt lợn, nấu chín thì màu sắc lại nhợt nhạt. Trường hợp thịt lợn ướp hàn the thì loại thịt này có màu hồng bầm, dùng tay ấn vào sẽ không thấy độ đàn hồi. Thịt lợn bị nhiễm giun sán (thịt lợn gạo) thì thịt có những đốm nhỏ hình hạt gạo, màu trắng đục.

Cách chọn mua, bảo quản và chế biến thực phẩmThịt lợn sạch có màu hồng tươi, không rỉ nước.

Thịt bò: Thịt bò tươi ngon có màu đỏ tươi, thớ nhỏ mịn, thơm mùi bò, mỡ bò màu vàng nhạt. Đối với thịt bò bơm nước: Khi ấn tay vào, nếu thấy nước tứa ra thì đó chính là dấu hiệu thịt đã bị bơm nước. Với thịt bò cũ, không còn tươi thì cắt vào miếng thịt sẽ không thấy máu tứa ra, khi ấn tay vào miếng thịt vết lõm không mất đi.

Thịt gà: Chọn loại thịt gà có màu sắc tự nhiên, thớ thịt mịn và có độ đàn hồi cao. Da gà phải kín, lành lặn, không có vết bẩn, mốc, không có vết gì lạ. Để tránh mua phải gà nhuộm phẩm màu, nhuộm bột sắt, không nên mua gà nhìn da có màu vàng ruộm, bắt mắt, căng phồng.

Thủy hải sản

Nên ưu tiên chọn các loại thủy hải sản còn sống. Quan sát kỹ đặc điểm bề ngoài để không mua nhầm cá nóc, bạch tuộc đốm xanh, ốc lạ, cua ghẹ lạ... nhằm tránh bị ngộ độc. Đối với các loại thủy hải sản đã chết thì phải thận trọng khi mua, vì chúng có thể bị tẩm ướp các hóa chất độc hại như ure, hàn the, formol...

Cách chọn mua, bảo quản và chế biến thực phẩmThực phẩm đông lạnh cần rã đông ở nhiệt độ thường trước khi nấu.

Cách chọn cá: Chọn con cá còn tươi, mình cá ít nhớt, có mùi tanh đặc trưng, mang khép kín màu đỏ tươi hoặc đỏ sẫm. Mắt cá sáng và hơi lồi. Thịt cá chắc, sự đàn hồi cao, thịt dính chặt với xương. Không chọn loại cá có biểu hiện: Mang cá không còn màu đỏ tươi hoặc đỏ sẫm nhưng nhìn bề ngoài cá vẫn rất tươi; bên trong thịt nhũn, lỏng lẻo, không dính chặt với xương; dễ tróc vẩy và có mùi tanh khác thường.

Tôm, mực, bạch tuộc…: Nên chọn những con còn tươi, nguyên con, đầu dính chặt với thân; sờ vào có cảm giác mềm dẻo, căng tự nhiên, độ đàn hồi cao; ngửi có mùi tanh đặc trưng, không có mùi lạ (như mùi khai, mùi hắc, mùi hôi…). Không mua loại hải sản nhìn bề ngoài rất tươi nhưng khi sờ vào thì mềm, nhão, độ đàn hồi kém. Khi ngửi có mùi lạ (như mùi khai, mùi hắc, mùi hôi…). Khi chế biến thịt nhão, không có độ ngọt, thơm đặc trưng.

Cách lựa chọn rau, củ, quả

Một số vấn đề hiện nay đang được quan tâm là mức độ nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật trong rau quả khá cao, hay dùng thuốc kích siêu tốc, dùng hóa chất lạ ngâm rau để rau lớn nhanh gây nên ngộ độc cấp tính cũng như mạn tính, ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe lâu dài cho người tiêu dùng.

Rau phun thuốc kích thích thường có lá xanh tốt bất thường, cọng rất non, to mập, những bó rau đó chỉ cần để từ sáng đến chiều là có thể bị nẫu, héo rũ.

Nên rửa rau ít nhất 3 lần hoặc rửa dưới vòi nước để loại trừ phần lớn thuốc bảo vệ thực vật tồn dư. Nên mua rau, củ, quả theo mùa, vì trái mùa rất dễ bị phun chất kích thích.

Cách chọn mua, bảo quản và chế biến thực phẩmRửa rau củ dưới vòi nước chảy để giảm thiểu vitamin B, C và khoáng chất hòa tan vào trong nước.

Các loại thức ăn chế biến sẵn

Nhóm sữa và chế phẩm sữa như sữa tươi, sữa tiệt trùng, phomat…cần chọn sản phẩm có ghi đầy đủ nhãn mác, hạn sử dụng. Sản phẩm màu đặc trưng, không chuyển màu, có mùi thơm của sữa.

Nhóm thực phẩm qua chế biến như giò, chả, thịt hun khói, đồ đông lạnh… cần chọn sản phẩm có thương hiệu, cơ sở sản xuất uy tín, đầy đủ nhãn mác, thành phần dinh dưỡng, ngày sản xuất, hạn sử dụng.

Nhóm ngũ cốc nguyên hạt như gạo tẻ, gạo nếp, đậu xanh, đậu đen và nhóm hạt cung cấp chất béo như lạc, vừng…: Hạt phải khô, không bị ẩm mốc, các hạt đều nhau, trong, không đục, màu sắc tự nhiên không bị biến đổi. Nếu cắn thử thấy hạt giòn, không vỡ vụn. Ngửi mùi có mùi thơm đặc trưng.

Bảo quản và sơ chế thực phẩm

Thực phẩm sau khi lựa chọn, mua về cần chú ý tới việc bảo quản, nhất là các thực phẩm chưa được chế biến ngay. Việc bảo quản các thực phẩm đã chọn phù hợp với từng nhóm thực phẩm, điều này sẽ giúp cho việc giữ - không bị mất các chất dinh dưỡng của thực phẩm, đồng thời đảm bảo độ tươi, ngon khi chế biến món ăn.

Đối với nhóm tươi sống như rau, quả thì cần bảo quản trong tủ lạnh ở ngăn mát. Đối với nhóm thịt, cá, hải sản, nếu chưa chế biến ngay, cần bảo quản trong tủ đông lạnh. Nhóm trứng, sữa cần để ngăn mát tủ lạnh hoặc nơi mát trong nhà, tránh ánh nắng trực tiếp. Nhóm ngũ cốc hạt cần để nơi thoáng, khô ráo, tránh ẩm.

Trong quá trình sơ chế các thực phẩm cần đúng cách để tránh làm mất chất dinh dưỡng và thay đổi đặc tính thực phẩm. Đối với nhóm rau, nên rửa rau củ dưới vòi nước chảy, không nên ngâm ngập rau quả trong chậu nước, như vậy sẽ tránh được việc các vitamin B, C và một số khoáng chất hòa tan vào trong nước. Đối với nhóm quả, sau khi rửa bằng nước sạch, không nên gọt quá sâu phần vỏ, vì các chất dinh dưỡng và một số hoạt chất sinh học tốt cho cơ thể có nhiều ở ngay lớp vỏ. Đối với nhóm thịt cá tươi, cần rửa sạch dưới vòi nước, không ngâm lâu tránh thực phẩm bị trương, rữa. Nếu cần phải rã đông thực phẩm đông lạnh, nên để rã đông tự nhiên ở nhiệt độ phòng để đảm bảo giữ lại chất dinh dưỡng. Lưu ý, tất cả các nhóm thực phẩm tươi, sống cần phải được nấu ngay, ăn ngay sau khi chế biến. Sơ chế xong, để thời gian quá lâu cũng sẽ làm mất các chất dinh dưỡng, như rau quả thái nhỏ để lâu sẽ làm mất vitamin C, beta-caroten….

Chế biến thực phẩm

Cách chế biến làm giảm tối thiểu các chất dinh dưỡng bị hao hụt:

Đối với chất đạm (protein): Khi nướng, rán các loại thực phẩm giàu protein như thịt, cá, trứng, sữa ở nhiệt độ cao quá lâu, giá trị dinh dưỡng của protein giảm đi vì chúng tạo thành các liên kết khó tiêu. Do đó với các thực phẩm này tốt nhất là 100 độ C để nấu chín và diệt khuẩn.

Đối với chất béo (lipid): Khi đun lâu ở nhiệt độ cao, các axit béo không no sẽ bị ôxy hóa làm mất tác dụng dinh dưỡng. Mặt khác, các liên kết kép trong cấu trúc của các axit béo này bị bẻ gãy tạo thành các sản phẩm trung gian như peroxit aldehyt, aldehyt rất có hại đối với cơ thể. Tránh sử dụng lại dầu, mỡ đã qua chiên rán ở nhiệt độ cao.

Cách chọn mua, bảo quản và chế biến thực phẩmĐậy vung khi đun nấu giúp thực phẩm chín nhanh, giữ được chất dinh dưỡng

Đối với nhóm vitamin: Về cơ bản, các vitamin bị tác động bởi nhiệt. Đối với nhóm vitamin (gồm vitamin tan trong nước và vitamin tan trong dầu) thì giữa thực phẩm sống và thực phẩm sau chế biến có hàm lượng thường không giống nhau, do nhóm vitamin thường bị hao hụt bởi nhiệt, không khí, nước, chất béo, thời gian chế biến.

PGS.TS. Nguyễn Thị Lâm

Thực phẩm nên ăn khi mắc bệnh trĩ

Trĩ là một bệnh lý thường gặp ở người lớn, nhất là độ tuổi từ 50 trở lên. Các triệu chứng có thể bao gồm đau hậu môn và ngứa, đi ngoài đau đớn và ra máu. Các yếu tố nguy cơ bao gồm mang thai, béo phì, ngồi nhiều, các bệnh lý tiêu hóa mãn tính và một chế độ ăn ít chất lỏng hoặc chất xơ. Thuốc và thay đổi chế độ ăn uống có thể giúp ngăn ngừa hoặc làm giảm triệu chứng của bệnh trĩ.

Sữa chua và kefir

Sữa chua và kefir, là những cung cấp chế phẩm sinh học probiotic có lợi giúp tăng cường sức khỏe tiêu hóa và chức năng miễn dịch. Probiotic có thể giúp ngăn ngừa hoặc điều trị bệnh trĩ, theo kết luận của Trung tâm Y tế Maryland, Hoa Kỳ.

Thực phẩm nên ăn khi mắc bệnh trĩ 1

Để có kết quả tốt nhất, tiêu thụ sữa chua hay kefir chứa vi khuẩn sống như lactobacillus hay bifidus. Uống kefir cũng có thể giúp giảm tình trạng mất nước và kích thích nhu động ruột.

Hoa quả và rau

Trái cây và rau quả cung cấp chất dinh dưỡng có giá trị, giúp tăng cường hệ thống miễn dịch và cung cấp chất lỏng giúp giảm táo bón. Những thực phẩm giàu chất xơ, trái cây và rau quả làm dễ đi tiêu và hạn chế táo bón.

Thực phẩm nên ăn khi mắc bệnh trĩ 2

Trái cây và rau quả giàu chất xơ bao gồm hoa quả, táo, lê, bơ, atisô, đậu Hà Lan, bông cải xanh, rau lá xanh đậm, đậu và bí mùa đông.

Ngũ cốc nguyên hạt

Ngũ cốc nguyên hạt có chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết, cung cấp nhiều chất xơ, protein và vi chất dinh dưỡng hơn so với ngũ cốc tinh chế (một số loại ngũ cốc dưới dạng tinh bột). Hầu hết mọi người không đáp ứng đủ nhu cầu chất xơ hàng ngày, nhu cầu hàng ngày khoảng 21 - 38 gam chất xơ.

Thực phẩm nên ăn khi mắc bệnh trĩ 3

Ăn 1/4 chén rau dền hoặc 1 cốc lúa mạch nghiền vụn cung cấp 6 gam chất xơ. Các loại thực phẩm ngũ cốc nguyên hạt giàu chất xơ khác bao gồm bột yến mạch, gạo lứt hạt dài, gạo hoang dã và hạt ngô.

Thức ăn lỏng, mềm

Để ngăn ngừa hoặc làm giảm triệu chứng bệnh trĩ, chế độ ăn nhiều chất lỏng là cần thiết, nên uống đủ nước hoặc các chất lỏng mỗi ngày. Uống ít nhất 6-8 ly nước lọc và chất lỏng hàng ngày; chất lỏng có thể lấy từ sữa, nước trái cây hoặc nước rau ép, các loại trà thảo dược hoặc nước súp.

Thực phẩm nên ăn khi mắc bệnh trĩ 4

Tránh caffein, thức uống có cồn và đồ uống nhiều đường, do cung cấp ít nguồn nước cho cơ thể, và trong một số trường hợp có thể đóng góp vào việc tăng cân, mà tăng cân rõ ràng làm nặng thêm trĩ.

Song song với điều chỉnh chế độ ăn uống phù hợp, bạn nên đi thăm khám, bác sĩ sẽ khám xét tại chỗ và nội soi trực tràng để chẩn đoán xác định, tùy vào mức độ nặng của bệnh trĩ, bác sĩ sẽ có những chỉ định điều trị kịp thời và thích hợp cho trường hợp cụ thể của bạn.

TS.BS. Lê Thanh Hải

(tham khảo Live Strong)

Hệ luỵ khi lạm dụng chất kích thích sinh trưởng trong trồng trọt

Có những loại thuốc kích thích nào?

Hiện nay trên thị trường, các thuốc KTST thực vật được sử dụng dưới hàng ngàn tên thương mại khác nhau như: Siêu ra rễ, thuốc kích mầm, thần dược siêu tăng trưởng... Ngoài ra, một số loại phân bón lá cũng có chứa một hàm lượng chất KTST nhất định.

Bản chất chung của các loại thuốc KTST nói trên đều có chứa hoạt chất gibberellin (GA), auxin (NAA) hoặc xytokilin đóng vai trò kích thích phân chia, giãn nở tế bào thực vật, kích thích sự ra rễ, phân cành, ra chồi, tăng sinh khối cây trồng.

Riêng các chế phẩm KTST thực vật rau quả, chủ yếu chứa các hoạt chất acid gibberelic (GA3) kích thích sự giãn nở tế bào, tăng sinh khối cây trồng. Tuy nhiên, các chất KTST thực vật không phải là một loại dinh dưỡng thay thế cho phân bón. Đặc biệt các chất KTST thực vật cũng độc hại không kém gì thuốc trừ sâu.

Hệ luỵ khi lạm dụng chất kích thích sinh trưởng trong trồng trọt

Hậu quả khi lạm dụng

Có thể nói, việc nghiên cứu và tạo ra các chế phẩm KTST thực vật là một thành tựu công nghệ sinh học của loài người. Tuy nhiên cái gì cũng có hai mặt của nó. Nếu sử dụng chế phẩm KTST đúng lúc, đúng cách, đúng liều lượng, đúng đối tượng và giai đoạn sinh trưởng của cây trồng sẽ giúp tăng năng suất, tăng hiệu quả gieo trồng. Nếu lạm dụng chất KTST trên mọi đối tượng cây trồng, đặc biệt là trong sản xuất rau quả như sử dụng quá liều lượng, không đảm bảo thời gian cách ly tối thiểu... sẽ gây ra hệ luỵ khó lường cho sức khoẻ người tiêu dùng, nhẹ thì gây ngộ độc thực phẩm, nặng dẫn đến ung thư, tử vong.

Thực tế là, trong một số năm gần đây ở một số địa phương nước ta, việc lạm dụng quá mức chất KTST trên cây trồng vẫn còn diễn ra khá phổ biến, nhất là trong sản xuất một số loại rau ăn lá, ăn ngọn (rau muống, bí ngô, su su, rau cần...), đã gây ra nhiều vụ ngộ độc thực phẩm rất đáng tiếc.

Hầu hết các loại thuốc KTST người dân hay dùng phun, ngâm rau quả hoặc các chất điều tiết sinh trưởng khác trong giấm trái cây đều có nguồn gốc nhập lậu từ Trung Quốc, vì giá thuốc rất rẻ, chỉ bán 1 - 2 mớ rau đã đủ tiền mua thuốc phun cho cả sào bắc bộ của cây rau muống. Các thuốc này đều không nằm trong danh mục cho phép của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Các loại rau sau phun thuốc KTST nói trên 2 - 3 ngày sẽ gia tăng sinh khối gấp nhiều lần, ngọn dài, rau xanh non mỡ màng, rất bắt mắt. Đa phần người dân sẽ thu hái rau trước thời gian qui định cho phép. Vì nếu chờ đủ thời gian cách ly, rau quả sẽ mất mã không còn hấp dẫn. Đây chính là cái “bẫy” giết người vô hình. Không ít người tiêu dùng vẫn ngộ nhận tin mua các loại rau mẫu mã như trên.

Giải pháp ngăn chặn lạm dụng chất KTST thực vật

Để đẩy lùi và ngăn chặn hiệu quả việc lạm dụng chất KTST trên cây trồng, đặc biệt là trên các loại rau quả, cần có sự vào cuộc quyết liệt của cả cộng đồng xã hội, bao gồm nhà nước, nhà nông, nhà khoa học và các cơ quan truyền thông đại chúng.

Nhà nước cần dành nguồn kinh phí thích đáng hỗ trợ cho các đề án, dự án nghiên cứu, khảo nghiệm, trình diễn mô hình sử dụng hiệu quả chất KTST trên cây trồng nói chung, cây rau quả nói riêng. Phải thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ mọi nguồn thuốc KTST thực vật nhập khẩu và lưu hành trên thị trường, đặc biệt là các loại thuốc KTST thực vật có nguồn gốc Trung Quốc. Có chế tài xử phạt nghiêm minh các tổ chức, cá nhân kinh doanh buôn bán và sử dụng thuốc KTST thực vật ngoài danh mục cho phép của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Nhà khoa học cần tăng cường nghiên cứu, giúp nông dân các giải pháp kỹ thuật, nâng cao năng suất cây trồng mà không cần sử dụng thuốc KTST. Mặt khác cũng cần nghiên cứu chỉ ra cho người dân thấy rõ những hệ luỵ của việc lạm dụng chất KTST trong trồng trọt. Và hướng dẫn nông dân cách sử dụng chất KTST thực vật hợp lý, an toàn, hiệu quả.

Các cơ quan truyền thông cần tăng cường thông tin, nâng cao nhận thức cho nhà nông thấy rõ nguy cơ tiềm ẩn, tác hại khôn lường của việc lạm dụng chất KTST trong trồng trọt, đặc biệt là trong sản xuất rau quả. Các chất KTST trên rau quả đều độc hại không kém thuốc trừ sâu. Vì chất KTST thường ngấm sâu vào bên trong các mô và tế bào thực vật, mà không có biện pháp xử lý triệt để. Dư lượng chất KTST đi vào cơ thể rất từ từ, tích tụ lâu ngày sẽ gây rối loạn sinh lý và sinh hoá cơ thể người, cuối cùng là dẫn đến ung thư. Nếu dư lượng quá cao sẽ gây ra ngộ độc thực phẩm, nặng thì bị tử vong.

Hệ luỵ khi lạm dụng chất kích thích sinh trưởng trong trồng trọtSử dụng quá liều lượng chất KTST gây hệ lụy khó lường, nhẹ thì ngộ độc cần được cấp cứu kịp thời.

Các nhà nông hãy nói không với sử dụng chất KTST thực vật không rõ nguồn gốc xuất xứ. Chỉ sử dụng thuốc KTST trong danh mục được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho phép trên cây trồng, phải tuân thủ đúng hướng dẫn cách sử dụng thuốc KTST ghi trên bao gói của nhà sản xuất. Chỉ nên sử dụng thuốc KTST thực vật trên các cây lấy gỗ, lấy sợi, cây ăn quả ở thời kỳ kiến thiết cơ bản và giai đoạn quả non, cây lương thực ở thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, rau ăn trái để tăng đậu quả, rau ăn lá lúc cây còn nhỏ tuổi và trên hạt giống để phá vỡ sự ngủ nghỉ. Khi sử dụng thuốc KTST cần kết hợp cung cấp cân đối dinh dưỡng phân bón cho cây trồng và phải đảm bảo cách ly tối thiểu 7 - 15 ngày trước thu hoạch (theo hướng dẫn của từng loại thuốc). Tốt nhất không nên sử dụng chất KTST trên các loại rau ăn lá, ăn quả và củ.

Người nội trợ hãy là nhà tiêu dùng thông thái

Nhiều loại rau quả đang bị lạm dụng chất KTST, nhưng người dân nước ta không thể sống thiếu rau: “Cơm không rau như đau không thuốc”, nên vẫn phải mua sử dụng rau trong các bữa ăn thường ngày. Để giảm thiểu nguy cơ mua phải rau quả bị lạm dụng chất KTST, người nội trợ hãy là nhà tiêu dùng thông thái. Chỉ chọn mua các loại rau, củ, quả còn tươi nguyên, hình dạng bình thường, màu sắc tự nhiên, không bị bầm giập trầy xước. Rau quả còn giòn chắc, cầm nặng tay, không có mùi vị và chất lạ. Nên hạn chế mua các loại rau quả trái vụ, các loại rau dễ bị lạm dụng chất KTST thực vật như giá đỗ, rau muống, rau bí, su su, rau cần, cải xoong, cải ngồng...

Không mua rau củ quả quá tươi non, xanh mướt mỡ màng. Rau có lá hẹp mỏng, cuống lá dài, ngọn rau dài nhỏ bất thường so với sản phẩm bình thường cùng loại.

Tránh mua rau quả đã gọt vỏ sẵn ngâm trong nước, vì rất dễ có chất tẩy trắng hoặc thuốc bảo quản chống thối, làm giòn dai sản phẩm. Ví dụ như măng chua...

Cần kiểm tra kỹ rau quả trước khi mua, vì mẫu mã bên ngoài rau quả có thể rất tươi ngon, nhưng bên trong đã bị hư hỏng do trước đó đã được xử lý bằng chất bảo quản.

Khi sản phẩm rau quả lạm dụng chất KTST không còn chỗ đứng trên thị trường, người tiêu dùng đã góp phần đẩy lùi, ngăn chặn việc lạm dụng chất KTST, chất bảo quản trên cây trồng và sản phẩm cây trồng.

ThS. Nguyễn Hải Tiến

Uống sữa hữu cơ giúp đẩy lùi bệnh tim

Sữa hữu cơ giàu axit béo omega-3, một yếu tố quan trọng trong chế độ ăn lành mạnh.

Tỷ lệ omega 6 và omega 3 trong sữa hữu cơ tương đương nhau, trong khi ở các loại sữa nguyên chất thông thường khác tỷ lệ này là 6:1.

Bổ sung quá nhiều axit béo omega-6 và quá ít axit béo omega-3 có thể tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, béo phì và tiểu đường.

Theo kết quả nghiên cứu được công bố trên Food Science & Nutrition, sữa hữu cơ rất tốt cho trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai và cho con bú.

Đồng tác giả của nghiên cứu, tiến sĩ Bradley Heins, thuộc Đại học Minnesota, cho biết: "Với nhu cầu ngày càng tăng về các sản phẩm sữa hữu cơ, các nhà sản xuất có thể mở rộng lợi nhuận và chia sẻ thị trường bằng cách chuyển sang trồng cỏ và chăn nuôi gia súc”.

Nghiên cứu đã giúp các nhà nghiên cứu tại Đại học Newcastle có cái nhìn bao quát hơn về giá trị dinh dưỡng từ sữa bò dưới 3 hình thức quản lý ở Anh- sữa từ bò ăn cỏ, sữa hữu cơ (80% ăn thức ăn gia súc) và sữa thường.

Axit béo omega-3 cũng giúp làm chậm quá trình mất chức năng nhận thức ở người cao tuổi.

BS.Tuyết Mai

(Theo Express)